Thứ Sáu, ngày 21 tháng 9 năm 2012

Trẻ ăn gì khi bị tiêu chảy?


Tiêu chảy là tình trạng khi trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc nhiều nước trên 3 lần 1 ngày, thường hay xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là những trè từ 6 tháng tuổi đến 2 tuổi.
Tiêu chảy cấp xảy ra đột ngột kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày). Tiêu chảy kéo dài là khi bị tiêu chảy trên 2 tuần hoặc nhiều hơn.
Trẻ em bị tiêu chảy thường bị suy dinh dưỡng và có thể dẫn tới tử vong, do cơ thể mất một lượng nước và muối lớn. Một nguyên nhân quan trọng nữa gây ra chết là lỵ. Để giúp trẻ phục hồi nhanh sau tiêu chảy và tránh suy dinh dưỡng cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, ăn càng sớm càng tốt khi chúng muốn ăn.
Chế độ ăn uống của trẻ
Trong điều trị tiêu chảy, điều quan trọng nhất là đề phòng mất nước, nhanh chóng điều trị mất nước và chế độ ăn của trẻ.
Để phòng mất nước ngày tại nhà bằng cách cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường như ORS (oresol), nước đun sôi để nguội, hoặc các dung dịch chế từ thực phẩm như cháo, nước cháo muối, nước gạo rang, nước cơm…
Nếu có mất nước phải đưa trẻ đến gặp cán bộ y tế cơ sở hoặc trạm y tế để điều trị. Cách điều trị mất nước tốt nhất là cho trẻ uống ORS và các loại dung dịch chế từ thực phẩm. Số lượng dung dịch cần cho uống tại nhà sau mỗi lần đi ngoài:
Trẻ dưới 2 tuổi: 50 - 100ml.
Trẻ từ 2 - 10 tuổi: 100 - 200ml.
Trẻ từ 10 tuổi trở lên và người lớn: uống theo nhu cầu.
Các loại dịch dùng trong điều trị ORS và cách pha: rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi pha. Đổ bột gói vào một cái bình ấm hay ấm tích nước sạch. Đong một lít nước sạch (hoặc một lượng nước thích hợp với từng loại gói được dùng), tốt nhất là nước đun sôi để nguội, trong trường hợp không thể có được thì dùng nước nào sạch nhất. Đổ nước vào bình chứa và lắc kỹ cho đến khi bột hòa tan hoàn toàn. Đậy bình lại và cho trẻ uống trong vòng 24 giờ. Đổ dung dịch đã pha đi khi đã quá 24 giờ và pha lại dung dịch mới.
Nước cháo muối: dùng một nắm gạo, một nhúm muối và 6 bát ăn cơm nước sạch rồi đun nhừ, lọc qua rá, lấy nước cho trẻ uống dần.
Nước gạo rang muối: lấy 50g gạo (một vốc tay) đem rang vàng, cho 6 bát nước đem nấu nhừ lọc qua rá cho 1 thìa cà phê muối ăn vào rồi cho trẻ uống dần.
Nước chuối, nước hồng xiêm: chuối hoặc hồng xiêm 5 quả xay hoặc nghiền nát với 1 lít nước sôi để nguội + 1 thìa cà phê gạt ngang muối ăn, cho trẻ uống dần.
Súp cà rốt muối: cà rốt 500g, muối ăn một thìa cà phê gạt ngang, 8 thìa cà phê đường. Cà rốt nấu nhừ chà qua rá hoặc cho vào máy xay sinh tố xay nhừ, cho một nhúm muối đun sôi lại, cho trẻ uống dần.
Cho trẻ ăn khi bị tiêu chảy
Là vấn đề rất quan trọng để đề phòng trẻ bị sút cân và suy dinh dưỡng.
Các loại thực phẩm nên dùng khi trẻ bị tiêu chảy: gạo (bột gạo), khoai tây, thịt gà nạc, thịt lợn nạc, sữa đậu tương, dầu ăn, cà rốt, hồng xiêm, chuối.
Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi đang bú mẹ: vẫn tiếp tục cho trẻ bú bình thường và tăng số lần bú.
Trẻ trên 6 tháng tuổi: ngoài sữa mẹ cần cho trẻ ăn thêm nhiều lần và từng ít một, các thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, trứng, cá, sữa… và cần cho thêm một ít dầu, mỡ để tăng thêm năng lượng của khẩu phần.
Thức ăn cần mềm, nấu kỹ, nấu loãng hơn bình thường và cho ăn ngay sau khi nấu để đảm bảo vệ sinh, giảm nguy cơ bội nhiễm, nếu phải cho trẻ ăn những thức ăn đã được nấu sẵn thì cần phải đun lại trước khi cho ăn. Cho trẻ ăn thêm quả chín hoặc nước quả chín như chuối, cam, chanh, xoài, đu đủ… để tăng lượng kali. Không dùng các loại nước giải khát công nghiệp vì chúng có thể làm tăng tiêu chảy.
Tránh các loại thực phẩm có nhiều xơ hoặc ít chất dinh dưỡng như các loại rau thô, tinh bột nguyên hạt (ngô, đỗ…) khó tiêu hóa.
Không dùng các loại thức ăn có nhiều đường vì những loại thức ăn này có thể làm tiêu chảy nặng hơn.
Số lượng thức ăn:
Cần khuyến khích trẻ ăn càng nhiều càng tốt. Trẻ nhỏ cho ăn 6 lần/ ngày hoặc nhiều hơn.
Sau khi khỏi tiêu chảy, để giúp cho trẻ phục hồi nhanh và tránh suy dinh dưỡng cần cho trẻ ăn thêm mỗi ngày một bữa trong hai tuần liền. Với trẻ bị tiêu chảy kéo dài thì phải cho trẻ ăn thêm mỗi ngày một bữa và kéo dài tối thiểu một tháng.
Ghi chú:
- Nếu trẻ ăn ít hoặc ăn vào bị nôn thì cho ăn ít hơn và tăng số bữa lên so với thực đơn.
- Trẻ dùng sữa bò tiêu chảy tăng thêm thì thay bằng sữa đậu tương 10% hoặc sữa không có latoza như (Isomil, Olac) hoặc cho ăn sữa chua làm từ sữa pha giống như các bữa sữa nước của trẻ.
- Từ ngày thứ 5 nếu trẻ bớt tiêu chảy quay dần về chế độ ăn, ăn bình thường.
Phòng bệnh tiêu chảy
- Nuôi con bằng sữa mẹ.
- Cho trẻ ăn bổ sung đúng và hợp lý, đảm bảo vệ sinh khi chế biến, bảo quản, dùng nguồn nước sạch, thực phẩm sạch và tươi không bị nhiễm khuẩn hoặc hóa chất bảo vệ thực vật.
- Rửa tay bằng xà phòng: Sau khi đi vệ sinh, thay tã lót cho trẻ, trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ ăn, chăm sóc trẻ.
- Sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý an toàn phân trẻ nhỏ bị tiêu chảy.
- Tiêm phòng sởi: trẻ mắc các bệnh sởi hoặc sau khi khỏi do mắc tiêu chảy, lỵ nặng dẫn tới tử vong. Tiêm vắc-xin sởi có thể phòng ngừa được 25% số ca tử vong liên quan tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi.
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LÂM, ThS.BS. LÊ THỊ HẢI

Phương pháp phát hiện vi khuẩn Helicobacter Pylori


Ngày nay, vi khuẩn Helicobacter Pylori (H.P) được coi là nguyên nhân chính gây ra loét dạ dày hành tá tràng và cũng được chính thức coi là nguyên nhân gây ra ung thư biểu mô dạ dày và u  lympho của dạ dày (MALT- mucosa associated lympho tissue). Vậy làm thế nào để phát hiện ra vi khuẩn này để điều trị hiệu quả?

Không chỉ gây ra các bệnh lý ở dạ dày mà nhiễm H.P có liên quan tới chứng khó tiêu chức năng (Funtional dyspesia), xuất huyết giảm tiểu cầu tiên phát, đái tháo đường týp II, xơ hóa động mạch và có liên quan tới bệnh mạch vành như nhồi máu cơ tim. Để chẩn đoán bệnh nhân có nhiễm H.P hay không, người ta tiến hành các biện pháp sau:
 Vi khuẩn Helicobacter Pylori.
Test thở: Đây là phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Phương pháp xét nghiệm này dựa vào cacbon đánh dấu: C13 hoặc C14. Cả hai loại cacbon này đã được Cục quản lý thuốc và dược phẩm Hoa Kỳ cho phép dùng xét nghiệm trên người (FDA), tuy nhiên, C14  không được dùng ở phụ nữ có thai và trẻ nhỏ. Trong trường hợp có nhiễm H.P tại dạ dày thì vi khuẩn sẽ tiết ra urease. Men urease sẽ phân hủy urê trong dạ dày thành amoniac và CO2. Vì vậy khi cho  uống C13 hoặc C14, nếu người đó có nhiễm H.P thì sẽ thu được CO2 có chứa cacbon đánh dấu trong khí thở ra. Để đảm bảo cho xét nghiệm được chính xác, người bệnh không được dùng kháng sinh, thuốc giảm tiết axit như omeprazole, cimetidine… và thuốc có chứa bismuth trong vòng 1 tháng trước khi làm xét nghiệm. Đây là một phương pháp xét nghiệm chính xác, an toàn, không gây khó chịu cho người bệnh và đã được tiến hành thường quy tại Việt Nam.
 Xét nghiệm qua nội soi dạ dày: Bệnh nhân được tiến hành nội soi dạ dày và lấy mẫu bệnh phẩm từ niêm mạc dạ dày.
- Có thể sử dụng clo-test để phát hiện H.P, đây là loại test nhanh được tiến hành ngay tại phòng nội soi.
 - Xác định H.P bằng kính hiển vi: quan sát thấy vi khuẩn trên mẫu bệnh phẩm sau khi nhuộm Giemsa hoặc nhuộm bạc.
- Người ta cũng có thể nuôi cấy được H.P bằng cách lấy bệnh phẩm qua nội soi dạ dày, đồng thời làm kháng sinh đồ cho phép xác định mức độ nhạy cảm với kháng sinh và tính kháng thuốc của vi khuẩn.
 Xét nghiệm máu: Bằng cách tìm kháng thể chống lại H.P trong máu cho phép xác định trong thời gian gần đây có bị nhiễm H.P hay không. Vì kháng thể trong máu giảm rất chậm, do đó sau điều trị diệt hết H.P, nồng độ kháng thể vẫn tiếp tục còn  lại trong máu của người bệnh sau một thời gian dài, bởi vậy phương pháp này không thể xác định hiện tại bệnh nhân còn nhiễm hay đã hết nhiễm H.P.
Ngoài ra người ta còn có thể xét nghiệm kháng thể kháng H.P trong nước tiểu, xét nghiệm C13 gắn vào urê trong máu, xét nghiệm antigen của H.P trong phân.
 Phòng bệnh do H.P bằng cách nào?
 Bởi vì vi khuẩn H.P lây truyền qua đường tiêu hóa, do vậy việc đảm bảo vệ sinh  như ăn uống thức ăn chín sẽ giúp làm giảm lây truyền. Tránh lạm dụng sử dụng kháng sinh hoặc dùng kháng sinh phải theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc giúp giảm khả năng kháng thuốc của vi khuẩn. Đối với những người mà trong gia đình có người bị ung thư dạ dày, cần khám và xét nghiệm H.P, nếu bị nhiễm nên sớm điều trị. 
BS. Vũ Trường Khanh

Thứ Tư, ngày 19 tháng 9 năm 2012

Tiêu chảy cấp

Ðược gọi là tiêu chảy cấp khi tiêu chảy kéo dài dưới 2 tuần, đại tiện > 3 lần/ngày, phân lỏng nhiều nước. Tiêu chảy cấp sẽ gây tình trạng mất nước và điện giải; ở nhiều mức độ khác nhau khi tiêu chảy kéo dài hơn 2 tuần thì gọi là tiêu chảy mạn lúc này hết sức chú ý vấn đề rối loạn hấp thu dẫn đến suy dinh dưỡng.
Nguyên nhân gây tiêu chảy cấp
Nguyên nhân thường gặp nhất là do nhiễm trùng, đây là loại tiêu chảy gặp khắp nơi trên thế giới đặc biệt ở các nước kém phát triển, đây cũng là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và tử vong cao ở trẻ em. Hầu hết nhiễm trùng gây tiêu chảy cấp lây truyền qua đường phân – tay – miệng, qua nước và thức ăn nhiễm bẩn. Có nhiều loại vi khuẩn gây nên bệnh tiêu chảy cấp, tùy theo cơ chế gây bệnh người ta chia ra các nhóm; nhóm gây tiêu chảy bằng độc tố có tụ cầu vàng, E.coli, phẩy khuẩn tả, E.coli 0157 – H7…; nhóm gây tiêu chảy bằng cách kết dính vào niêm mạc ruột có giun, sán, E.coli, cyclospora…; nhóm gây tiêu chảy bằng cách xâm nhập niêm mạc như amíp, salmonela, rotavirus, shigela…và nhóm bệnh nhiễm trùng hệ thống gây tiêu chảy cấp như viêm gan virus, sởi…
Ngoài nguyên nhân nhiễm trùng, còn rất nhiều nguyên nhân khác có thể dẫn đến tiêu chảy cấp như do thuốc (nhất là các thuốc kháng acid, ức chế bơm proton, thuốc hạ lipid máu, thuốc kháng sinh như erythromycin, ampicillin…), do hóa chất (nhất là asen, phospho hữu cơ, nấm độc…), sau hóa trị liệu, do dị ứng, do thức ăn…
Biểu hiện như thế nào?
Ngoài việc đi tiêu chảy, thường có kèm theo nôn mửa, đau bụng, sốt và các biểu hiện toàn thân khác tùy theo từng nguyên nhân. Tiêu chảy do nhiễm trùng là loại thường gặp nhất, do đó trong phạm vi bài viết này chủ yếu đề cập đến lâm sàng của tiêu chảy cấp do nhiễm trùng, mà nguyên nhân nhiễm khuẩn thường thấy là do salmonela, tụ cầu vàng và do rotavirus.
Tiêu chảy cấp do salmonela: đây là nguyên nhân hay gặp nhất trong các nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn, bệnh gặp khắp nơi trên thế giới. Salmonela là loại trực khuẩn gram âm, có lông, có sức đề kháng tốt ở ngoại cảnh; trong đất sống được vài tháng; trong nước và phân sống được vài tuần; trong thực phẩm đông lạnh được 2 – 3 tháng và sống cả ở những thực phẩm có nồng độ muối cao; ở 100 độ C phải hơn 5 phút mới diệt được. Thường có trong thịt, sữa, trứng; trong các thực phẩm này chúng nhân lên mà không làm thay đổi màu sắc, mùi vị. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, tỷ lệ tăng lên ở người cắt đoạn dạ dày hoặc suy giảm miễn dịch. Khi nhiễm vi khuẩn, sau 12 – 36 giờ sẽ xuất hiện các biểu hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan tỏa khắp bụng; buồn nôn và nôn nhiều lần, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân thối, nhiều nước, không mót rặn, trong phân có thể có lẫn thức ăn chưa tiêu; kèm theo có sốt cao 38 – 40 độ, có rét run, nhức đầu mệt mỏi, khát nước, môi khô, mắt trũng, đái ít… nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến thiểu niệu, vô niệu và tử vong do rối loạn nước và điện giải. Đó là thể điển hình, ngoài ra còn có thể gặp thể nhiễm khuẩn huyết giống như thương hàn, thể khu trú nội tạng hoặc thể người lành mang khuẩn. Điều trị chủ yếu bổ sung nước và điện giải, hạ sốt, an thần và cân nhắc khi sử dụng kháng sinh.
Tiêu chảy cấp do tụ cầu: bệnh cảnh này là do ăn phải thức ăn đã nhiễm phải ngoại độc tố của tụ cầu vàng. Ngoại độc tố này có tính chịu nhiệt cao (ở 100 độ C phải cần 1 – 2h mới hủy được) và không làm thay đổi mùi vị thức ăn. Nguồn bệnh là những người bị viêm họng, viêm xoang đang có ổ mủ trên da… do tụ cầu; lây chủ yếu qua đường tiêu hóa do thực phẩm bị ô nhiễm. Ngoại độc tố tụ cầu sau khi xâm nhập vào đường tiêu hóa không bị men tiêu hóa tác động, chúng nhanh chóng thấm vào niêm mạc dạ dày, ruột và máu tác động lên thần kinh thực vật làm cường phó giao cảm, có thể dẫn đến trụy tim mạch. Sau khi nhiễm từ 30phút – 6giờ, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị nhiều hơn vùng rốn, đau quặn từng cơn; buồn nôn và nôn nhiều lần trước khi đi ngoài nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước. Thường không có sốt hoặc sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, có thể rối loạn nước và điện giải dẫn đến trụy tim mạch. Thường chỉ gây tử vong ở trẻ nhỏ hoặc người già suy kiệt. Điều trị chủ yếu là bổ sung nước và điện giải, trợ tim mạch.
Bệnh do Rotavirus: đây là virus thuộc họ Reoviridae, hình cầu, có 7 tuyp huyết thanh đã được xác định đánh dấu từ A đến G, nhưng chỉ có nhóm A, B, C gây tiêu chảy cấp ở người; trong đó nhóm A là phổ biến nhất, có mặt khắp thế giới, là tác nhân chính gây tiêu chảy cấp ở trẻ em < 3 tuổi và cũng là nguyên nhân gây tử vong chính trong các virus rota. Virus này sống nhiều ngày ở nhiệt độ thường trong phân, trong nước; sống hàng năm ở nhiệt độ âm 20oC, đặc biệt kháng với Clo. Nguồn bệnh chủ yếu là bệnh nhân bị tiêu chảy cấp và những người mang virus trong phân. Lây theo đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống nhiễm virus. Virus này chủ yếu gây bệnh cho trẻ em dưới 2 tuổi, virus xâm nhập theo đường tiêu hóa, gây tổn thương, phá hủy chọn lọc vào các tế bào trụ của niêm mạc ruột non, dẫn đến hạn chế hấp thu nước, muối và tình trạng kéo nước từ các tổ chức tế bào vào lòng ruột; giảm hấp thu đường và chất béo; rối loạn tiêu hóa mỡ… bệnh nhi mất nước điện giải và suy dinh dưỡng nhanh. Bệnh thường xuất hiện sau 24 – 48h, khởi phát đột ngột với các triệu chứng sốt cao hoặc không sốt, nôn nhiều, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước, đôi khi dẫn đến rối loạn nước và điện giải rất nhanh. Chẩn đoán có thể dựa vào các xét nghiệm phát hiện virus hoặc phát hiện kháng thể kháng virus. Điều trị chủ yếu là điều chỉnh cân bằng nước và điện giải.
 Thức ăn không đảm bảo vệ sinh là nguyên nhân gây tiêu chảy cấp.
Các thuốc sử dụng trong điều trị tiêu chảy
Các thuốc trị tiêu chảy được đề cập ở đây chỉ là các thuốc chữa trị triệu chứng bù nước và điện giải, làm giảm sự co thắt ở ruột, sửa chữa sự rối loạn tiết dịch do đó làm giảm đau bụng và làm giảm số lần đi đại tiện.
Dung dịch bù nước và điện giải
Tuy không điều trị được nguyên nhân nhưng đây là biện pháp căn bản để chống mất nước và điện giải từ đó tránh được các rối loạn do mất nước và điện giải gây ra.
Thường dùng là Oresol (1 gói chứa 20gam glucose khan, 3,5 gam natriclorit; 2,9 gam natricitrat và 1,5 gam kaliclorit) 1 gói pha trong 1 lít nước sôi để nguội, uống liên tục trong ngày, tùy theo mức độ mất nước có thể sử dụng 2 – 3 gói trong ngày.
Có thể thay thế Oresol bằng viên Hydrit, mỗi lần uống 1 viên pha vào 200ml nước.
Cần chú ý pha thuốc đúng tỷ lệ, nếu quá loãng sẽ không cung cấp đủ lượng chất điện giải cần thiết, nếu quá đặc sẽ  dẫn đến tình trạng quá tải các chất điện giải.
Thuốc làm giảm nhu động ruột
Thuốc làm giảm sự co bóp của ruột nên nước và chất điện giải di chuyển trong ruột chậm hơn, từ đó làm tăng sự hấp thu nước và điện giải trong lòng ruột vì thế làm tăng độ đặc của phân. Không dùng thuốc trong các trường hợp tiêu chảy do nhiễm khuẩn, chỉ dùng trong các trường hợp như tiêu chảy do chế độ ăn, do dị ứng…
Loperamid: viên 2mg. Đây  là thuốc chống tiêu chảy có gốc á phiện không tác dụng lên thần kinh trung ương ở liều điều trị. Thải trừ qua phân 90%, qua nước tiểu 10%, rất ít qua sữa mẹ. Tác dụng không mong muốn là gây táo bón, ban chẩn, nếu dùng quá liều có thể gây liệt ruột và gây ức chế hệ thần kinh trung ương. Không dùng loại dung dịch cho trẻ dưới 2 tuổi và loại thuốc viên cho trẻ dưới 8 tuổi. Cân nhắc khi sử dụng cho người suy gan, phụ nữ có thai 3 tháng đầu.
Diphenoxynat: viên 2,5mg, cũng là thuốc trị tiêu chảy gốc á phiện có thêm 0,025mg atropine, thuốc được thải trừ qua phân. Tác dụng không mong muốn là gây khô miệng, buồn ngủ, táo bón; hiếm hơn là gây nôn mửa, nhức đầu, ngứa. Dùng quá liều có thể gây ức chế hô hấp dẫn đến hôn mê. Không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú, nhiễm khuẩn nặng đường tiêu hóa.
Thuốc kháng tiết ở ruột non
Thuốc có tác dụng ức chế men encephalinase (là men phụ trách thoái hóa encephalin nội sinh ở não và ruột) làm ức chế tiết ở ruột do độc tố của vi khuẩn tả hoặc do viêm mà không làm giảm dịch tiết cơ bản khác. Thuốc hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa, đạt đỉnh điểm sau khi uống 1h, thời gian tác dụng khoảng 8h. Thuốc đôi khi gây buồn ngủ, cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú.
Thuốc dẫn xuất từ nấm men và vi khuẩn
Antibiophilus, byosybtin…, cung cấp các enzyme, các acid amin, và các vitamin nhóm B, nó ức chế sự phát triển của Candida albica và một số vi khuẩn khác (đặc biệt là các vi khuẩn xuất hiện khi dùng kháng sinh). Với đa số các thuốc này không nên dùng chung với các kháng sinh đường uống nhất là các kháng sinh phổ rộng.
Các chất hấp phụ
Là những silicat thiên nhiên hoặc nhựa polyacryl thán nước, có khả năng hút nước rất nhiều làm tăng độ đặc của phân. Thuốc không được hấp thu vào máu và được đào thải theo phân mang theo các chất mà chúng đã hấp phụ, do đó không dùng chung với nhóm làm giảm nhu động ruột. Ngoài ra cần chú ý dùng các thuốc khác cách xa thuốc này khoảng 2 tiếng.
Một số thuốc hay dùng của nhóm này như Gelopectose (gồm có pectin, cellulose, silice, natri clorit), Sacolen (thành phần có lactoprotein methylelic),…
Ngoài ra trong đông y còn hay sử dụng thuốc berberin là alcaloit chiết xuất từ các cây vàng đắng, hoàng liên, hoàng bá, hoàng đằng. Thuốc có tác dụng diệt lỵ amíp, một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột.
Cần lưu ý: điều trị tiêu chảy có rất nhiều thuốc và cũng có rất nhiều chú ý kèm theo. Trước khi tính đến việc dùng thuốc cầm tiêu chảy bao giờ cũng phải nghĩ đến việc bù nước và điện giải nhất là với trẻ em. Cần đến khám ở các cơ sở y tế khi đã dùng thuốc mà các triệu chứng không cải thiện hoặc tiêu chảy có kèm theo sốt, nôn, người bệnh có tình trạng mất nước mắt trũng, môi khô, ít nước tiểu, lú lẫn, lơ mơ… Người bị bệnh tiêu chảy vẫn ăn uống bình thường những loại thức ăn nấu chín dễ tiêu, tránh các các thức ăn nhiều dầu mỡ, các chất tanh.
Cần làm gì để phòng bệnh tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn
Tiêu chảy cấp nói chung và tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn nói riêng là nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở nhiều vùng trên thế giới trong đó có một số vùng ở Việt Nam do vậy cần hết sức quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục cho mọi người dân có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, giữ gìn vệ sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo quản tốt thức ăn, nước uống trước, trong và sau khi chế biến; ăn chín, uống sôi; tạo lập thói quen rửa tay trước khi ăn, rửa tay sau khi đi vệ sinh; quản lý tốt chất thải sinh hoạt ra môi trường, đặc biệt quản lý tốt chất thải của con người nhất là của những bệnh nhân tiêu chảy cấp.
BS. Nguyễn Trung Hiếu

18 Again: Kem trinh nữ đọc và suy nghĩ ở khía cạch dược học




Thành phần Kem trinh nữ:
Tạm địch


18 Một lần nữa đã chứng minh là có hiệu quả nhất phục hồi âm đạo gel có sẵn. Đó là một sự pha trộn kỳ lạ các thành phần tự nhiên trong đó bao gồm Woodfordia floribunda, CentellaAsiatica, Punicagranatum, Hạnh nhân, Alum, Vitamin E, Aloe Vera và vàng! 18 Một lần nữa là một thứ hỗn hợp theo tỷ lệ chính xác của nó mà các công trình theo hướng trẻ hóa và tài sản hiệu quả nhất phục hồi trong vòng ba tháng.

WOODFORDIA FLORIBUNDA
Woodfordia được sử dụng như một chất làm se và có tính chất kích thích. Nó hoạt động hợp đồng các bức tường của âm đạo. Alkaloids cung cấp hiệu ứng giãn và chống co thắt niêm mạc tử cung và các cơ mạch máu dẫn đến tăng lưu lượng máu.

Rau má
Centella Asiatica được sử dụng như một thuốc giãn mạch và mạch máu strengthener. Nó được biết đến với tác dụng của nó tạo ra các đặc tính điều chỉnh trên các mô liên kết và các đặc tính chống lão hóa. Nó đã vết thương đặc tính chữa bệnh, chữa lành các mô sẹo và tăng cường sức khỏe da. Bôi của nó làm tăng sức bền của xác thịt và các mô. Nó cũng giúp thúc đẩy sự gia tăng của hemoglobin và giảm urê và axit phốt phát trong máu.

PUNICA granatum
Theo một truyền thuyết, Punica granatum tăng trong Garden of Eden và trái cây đã được sử dụng như một loại thuốc dân gian hàng ngàn năm. Gần đây, nó đã được công nhận như là một "superfood" có thể làm giảm các triệu chứng của nhiều bệnh. Punica granatum chiết xuất từ ​​trái cây là một nguồn phong phú của các polyphenol và chứng minh đặc tính chống oxy hóa kháng virus, kháng khuẩn và không thể tin được. Nó là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ, giúp bảo vệ các mô khỏi bị hư hại, và làm giảm viêm trong cơ thể.

ALMOND
Khi estrogen và progesterone giảm mạnh, âm đạo trở nên khô và không lành mạnh. Hạnh nhân, như là một thành phần trong 18 lại làm tăng bôi trơn và ngăn ngừa ngứa âm đạo. Hạnh nhân được sử dụng như một dụng chống co thắt và đại lý trẻ hóa.

ALUM
Alum là một chất làm se mạnh mẽ và thắt chặt các bức tường âm đạo lỏng lẻo. Nó được sử dụng để thắt chặt âm đạo, là một chất làm đông tụ máu và đại lý nhẹ nhàng. Nó cũng sở hữu đặc tính kháng khuẩn giúp ngăn ngừa viêm nhiễm âm đạo có khuynh hướng phát triển trong các mô lão hóa.

Vitamin E
Vitamin E là một chất chống oxy hóa tuyệt vời ngăn ngừa tổn thương mô và thúc đẩy sự phát triển của tế bào. Việc sử dụng tại chỗ của Vitamin E giúp khắc phục chứng khô âm đạo. Nó cũng được sử dụng để thúc đẩy việc chữa lành vết thương và vết sẹo, nếp nhăn và vết rạn da.

ALOE VERA
Gel Aloe vera là một tác nhân làm sạch tuyệt vời giúp làm sạch các tế bào chết trên da và giúp trong sự phát triển của các mô mới. Nó cũng ngăn ngừa nhiễm nấm và là một đại lý đông máu rất hiệu quả. Gel Aloe vera được sử dụng như là chất bôi trơn và dưỡng ẩm tự nhiên. Nó có đặc tính chữa lành và được sử dụng trong điều trị các nhiễm trùng âm đạo, phản ứng dị ứng, ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu, sẹo và mụn cóc. Gel này là rất hữu ích trong việc kích thích hệ thống miễn dịch.

GOLD
Kể từ thời gian bắt đầu, vàng đã được sử dụng trong các loại thuốc được thiết kế để chống lại lão hóa và kéo dài tuổi thọ! Mềm nhất của tất cả các kim loại, vàng là một sản phẩm tự nhiên. Vàng là một rejuvenator mạnh mẽ. Nó tăng cường khả năng miễn dịch cơ thể và duy trì sức sống & sức sống. Kể từ thời gian bắt đầu, vàng đã được sử dụng trong các loại thuốc được thiết kế để chống lại lão hóa và kéo dài tuổi thọ! Mềm nhất của tất cả các kim loại, vàng là một sản phẩm tự nhiên. Khi áp dụng cho các bức tường âm đạo, nó ảnh hưởng đến các bức tường ở một cấp độ tế bào, tạo cho họ năng lượng mới, bất chấp lão hóa thay đổi liên quan và cung cấp cho trẻ hóa. Sử dụng vàng sản xuất tuyệt vời tuổi, bất chấp kết quả có lợi cho mục đích phòng ngừa và sửa chữa của âm đạo trong một thời gian rất ngắn thời gian.



18 Again has proven to be the most effective vaginal restoration gel available. It is a blend of exotic natural ingredients which include Woodfordia floribunda, CentellaAsiatica, Punicagranatum, Almonds, Alum, Vitamin E, Aloe Vera and Gold! 18 Again is a concoction in its precise proportion that works towards providing the most effective rejuvenating and restorative properties within three months.

WOODFORDIA FLORIBUNDA
Woodfordia is used as an astringent and has stimulant properties. It acts to contract the walls of the vagina. Its alkaloids provide relaxant and anti-spasmodic effects on uterine lining and blood vascular muscles resulting in increased blood flow.

CENTELLA ASIATICA
Centella Asiatica is used as a vasodilator and blood vessel strengthener. It is known for its effects of generating modulating properties on connective tissues and anti-ageing properties. It has wound healing properties, heals scarred tissues and promotes skin health. Its topical application increases the tensile strength of flesh and tissues. It also helps to promote an increase of haemoglobin and decrease of urea and acid phosphates in the blood.

PUNICA GRANATUM
According to a legend, Punica Granatum grew in the Garden of Eden and the fruit has been used as a folk medicine for thousands of years. More recently, it has been acknowledged as a 'superfood' that can relieve symptoms of many diseases. Punica Granatum fruit extract is a rich source of polyphenols and demonstrates antiviral, antibacterial and incredible antioxidant properties. It is a strong antioxidant, helps to protect tissues from damage, and lowers inflammation in the body.

ALMOND
When estrogens and progesterone plummet; the vagina becomes dry and unhealthy. Almond, as an ingredient in 18 again increases lubrication and prevents vaginal itchiness. Almond is used as an antispasmodic and rejuvenation agent.

ALUM
Alum is a strong astringent and tightens the lax vaginal walls. It is used for vaginal tightening, is a blood coagulant and soothing agent. It also possesses antibacterial properties which helps in fighting vaginal infections that are prone to develop in the ageing tissue.

VITAMIN E
Vitamin E is an excellent antioxidant that prevents tissue damage and promotes cell growth. The topical use of Vitamin E helps overcome vaginal dryness. It is also used to promote the healing of wounds and scars, wrinkles and stretch marks.

ALOE VERA
The gel of Aloe vera is an excellent cleansing agent that helps in cleaning the dead tissues on the skin and helps in the growth of new tissues. It also prevents fungal infections and is a very effective clotting agent. The gel of Aloe vera is used as lubricant and natural moisturizer. It has healing properties and is used in treatment of vaginal infections, allergic reactions, preventing urinary tract infections, scarring and warts. This gel is very helpful in stimulating the immune system.

GOLD
Since time began, gold has been used in medicines designed to defy ageing and prolong life! The softest of all metals, gold is a natural product. Gold is a powerful rejuvenator. It strengthens the body immunity and maintains vitality & vigor. Since time began, gold has been used in medicines designed to defy ageing and prolong life! The softest of all metals, gold is a natural product. When applied to the vaginal walls, it influences the walls at a cellular level, giving them new energy, defies ageing related changes and provides rejuvenation. Using gold produces amazing age-defying results that are beneficial for preventative and repairing purposes of the vagina in a very short period of time.

Atapulgite chống tiêu chảy

Atapulgite là hydrat nhôm magnesi silicat chủ yếu là một loại đất sét vô cơ có thành phần và lý tính tương tự như kaolin. Khi dùng người ta đốt nóng atapulgite để tăng khả năng hấp phụ (còn gọi là atapulgit hoạt hoá) và atapulgite hoạt hgoá này có mặt trong hầu hết các chế phẩm có trên thị trường. Atapulgite hoạt hóa được dùng làm chất hấp phụ trong tiêu chảy, có tác dụng bao phủ mạnh, bảo vệ niêm mạc ruột bằng cách trải thành một màng đồng đều trên khắp bề mặt niêm mạc.
Thuốc được giả định là hấp phụ nhiều vi khuẩn, độc tố và làm giảm mất nước. Nhưng Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng những phát hiện này không có ý nghĩa rõ về mặt lâm sàng. Mặc dù atapulgite có thể làm thay đổi độ đặc và vẻ ngoài của phân, nhưng không có bằng chứng xác thực là thuốc này ngăn chặn được sự mất nước và điện giải trong tiêu chảy cấp.
Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Thuốc được dùng trong điều trị triệu chứng các bệnh đại tràng không đặc hiệu cấp và mạn tính có tiêu chảy, đặc biệt là tiêu chảy kèm trướng bụng. Ngoài ra, thuốc còn được dùng trong hội chứng kích ứng ruột và có thể thụt để điều trị hỗ trợ trong viêm loét đại tràng. Thuốc không được dùng trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em. Trên thị trường atapulgite có các dạng viên nén, gói bột, hỗn dịch uống.
Đối với dạng viên và hỗn dịch atapulgite dùng để uống sau mỗi lần đi phân lỏng cho người lớn và thiếu niên. Đối với dạng gói thường uống vào trước bữa ăn... Liều lượng do thầy thuốc chỉ định. Cần lưu ý, atapulgite gây cản trở hấp thu các thuốc khác vì vậy nên uống atapulgite và các thuốc điều trị khác cách nhau 2 - 3 giờ.
 Atapulgite được dùng trong điều trị triệu chứng bệnh đại tràng.
Khi uống thuốc người bệnh thường có hiện tượng táo bón. Đây là tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc. Ngoài ra, do nhôm được hấp thu vào cơ thể, gây thiếu hụt phospho, khi dùng thuốc kéo dài hoặc liều cao. Tuy nhiên tác dụng phụ này rất hiếm gặp.
Khi dùng thuốc cần lưu ý, không dùng atapulgite quá 2 ngày, hoặc khi tiêu chảy kèm sốt, tiêu chảy phân có máu và chất nhầy, sốt cao. Nếu sau khi sử dụng quá 2 ngày vẫn tiêu chảy, cần hỏi ý kiến bác sĩ điều trị. Khi dùng cho trẻ bị tiêu chảy kèm theo mất nước, trước tiên cần bồi phụ nước và điện giải bằng đường uống cho trẻ. Không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi trừ trường hợp có sự theo dõi của bác sĩ, vì nguy cơ mất nước do tiêu chảy. Dùng thận trọng ở người to đại tràng do suy giảm trương lực. Ðối với người bệnh đái tháo đường cần quan tâm đến hàm lượng glucose trong 1 gói thuốc.    
  Dược sĩ Hoàng Thu Thủy

Bước tiến mới trong điều trị tiêu chảy


Tiêu chảy là tình trạng đi tiêu nhiều lần (> 3 lần) trong ngày, với lượng phân và nước khá lớn. Trẻ em càng nhỏ tiêu chảy càng dễ nặng hơn, nhất là tiêu chảy cấp dễ dẫn đến mất nước nhanh gây nguy hiểm tới tính mạng. Bởi vậy, cần được điều trị nhanh chóng, đặc biệt là bù đủ nước và chất điện giải.
Điểm qua các thuốc điều trị
Ở các nước đang phát triển (trong đó có nước ta), mỗi năm, mỗi đứa trẻ mắc trung bình 5 - 12 đợt tiêu chảy, 25 - 30% trẻ nhập viện điều trị là do tiêu chảy. Tiêu chảy là sát thủ nghiêm trọng thứ hai ở trẻ dưới 5 tuổi, chỉ đứng sau nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp. Người ta ước tính mỗi năm có khoảng 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới chết do tiêu chảy, trong số đó có 80% là trẻ dưới 2 tuổi.
Nguyên nhân gây tiêu chảy có nhiều: có thể do vi khuẩn, virut (hay gặp nhất là Rotavirus), ký sinh trùng, dị ứng, ngộ độc thức ăn. Các thuốc điều trị đề cập ở đây là điều trị triệu chứng, làm giảm sự co thắt ở ruột, sửa chữa sự rối loạn tiết dịch, bổ sung nước và chất điện giải…Trên cơ sở này có thể dùng nhóm thuốc là các chất hấp phụ (smecta, smectic, acticarbine, carbotrim…) có cấu trúc xốp và có độ nhớt cao, tương tác với glycoprotein của dịch nhầy, làm tăng sức chịu đựng của lớp gel dính trên niêm mạc ruột khi bị các vi khuẩn tấn công, do đó bảo vệ được niêm mạc ruột.
Cũng có thể dùng nhóm thuốc có tác dụng ổn định hệ vi khuẩn chí ở ruột (antibio, bioflor, enterogermina, lacteol…), với mục đích là chống loạn khuẩn, kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột, lập lại sự cân bằng của hệ tạp khuẩn.
Tuy nhiên, đứng đầu trong các thuốc điều trị tiêu chảy phải kể đến là oresol và racecadotril - một thuốc mới có nhiều triển vọng.
Oresol là lựa chọn số một
Mắc bệnh và tử vong do tiêu chảy chủ yếu là do mất nước và điện giải. Trẻ em rất dễ mất nước, nếu giảm sút trên 10% thể trọng do tiêu chảy có thể tử vong sau vài giờ. Do vậy, khi trẻ bị tiêu chảy nhất là tiêu chảy cấp, đặc biệt đối với trẻ nhỏ vấn đề quan trọng là phải bù nước và điện giải đã mất do tiêu chảy. Cách đơn giản nhất mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo là dùng oresol bằng đường uống.
 
Từ khi có oresol đưa vào điều trị tiêu chảy đã cứu được rất nhiều trẻ em thoát chết. Năm 2008, WHO và UNICEF lại đưa ra khuyến cáo liệu trình mới điều trị tiêu chảy ở trẻ em dựa trên nền của liệu trình cũ có cải tiến và thu được kết quả cao hơn. Đó là dùng oresol có tỷ trọng thấp (so với oresol cũ) và một vài thuốc khác.
 Hình ảnh ruột khi bị tiêu chảy.
Dung dịch oresol mới có nồng độ NaCl 2,6g/lít (so với cũ là 3,5g/lít), glucose 13,5g/lít (so với cũ 20g/lít), một số chất khác không thay đổi. Như vậy là dung dịch oresol mới có tỷ trọng thấp hơn hoặc có tổng độ thẩm thấu tốt hơn oresol cũ. Các nghiên cứu cho thấy nhóm trẻ dùng oresol mới làm giảm tới 33% số trẻ phải truyền dịch, làm giảm 20% số lượng phân bài tiết và làm giảm 30% số trẻ bị nôn so với nhóm trẻ dùng dung dịch oresol cũ (có tỷ trọng cao hơn).
Oresol (gồm các hỗn hợp trên) được đóng gói trong giấy nhôm hàn kín, mỗi gói dùng pha trong 1lít nước đun sôi để nguội, không được pha đặc hay loãng hơn. Dung dịch pha xong chỉ nên uống trong ngày, qua ngày hôm sau thừa phải đổ đi và pha gói mới.
Racecadotril - một thuốc mới
Tuy oresol có tính an toàn cao và dung nạp tốt, nhưng chỉ bù nước và chất điện giải một cách thụ động mà cơ thể đã bị mất chứ không tác động chủ động vào cơ chế sinh bệnh, chính là tình trạng tăng tiết quá mức ở ruột. Do vậy, dung dịch bù nước và điện giải bằng đường uống không ngăn được lượng dịch sẽ mất, không làm giảm lượng phân bài xuất và rút ngắn thời gian tiêu chảy. Trên cơ sở nhận thức đó, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu lại tìm ra thuốc racecadotril (tên chung quốc tế). Cơ chế tác dụng của racecadotril trong chống tiêu chảy là chống tăng tiết (kháng tiết).
 
Người ta nhận thấy ở ruột có một chất chống xuất tiết tự nhiên làm giảm mất nước và điện giải được gọi là enkephalin. Tuy vậy, enkephalin lại không tồn tại lâu mà dễ bị một loại enzym làm mất hoạt tính (được gọi là enkephalinase) và làm mất tác dụng kháng tiết có lợi của enkephalin. Điều này dẫn đến nhu cầu tìm ra racecadotril một loại thuốc ức chế men gây hại nói trên, để enkephalin phát huy tác dụng có lợi chống mất nước và điện giải. Tuy vậy, sự ức chế này là có chọn lọc, có thể phục hồi và bảo vệ được enkephalinase nội sinh, không ảnh hưởng đến tiết dịch cơ bản, không tác dụng trên ruột bình thường.
Racecadotril trên thực nghiệm và thực tế điều trị đều chứng minh được hiệu quả chống tiêu chảy nhanh và rất an toàn, đặc biệt đối với trẻ em. Do tác động chống tăng tiết racecadotril làm giảm lượng phân bài xuất và rút ngắn thời gian tiêu chảy. Nó đặc biệt tốt cho trẻ em bởi đặc tính của thuốc không đi qua hàng rào máu não (không ảnh hưởng hệ thần kinh trung ương, không ức chế hô hấp), không làm giảm nhu động ruột (không gây trướng bụng chán ăn, không gây tăng sinh vi khuẩn ruột quá mức) và đặc biệt khá an toàn nếu dùng quá liều. Do vậy, racecadotril đã được nhiều hiệp hội nhi khoa thế giới khuyến cáo sử dụng rộng rãi từ năm 2003 và thực tế cho tới nay đã chứng tỏ tính ưu việt.
Như vậy, cách điều trị theo khuyến cáo mới thực sự là một kết hợp thú vị và khá hoàn chỉnh, bởi lẽ oresol thì bù lại lượng nước và điện giải bị mất, còn racecadotril thì ức chế sự tăng tiết nước và điện giải, làm giảm đi lượng nước và điện giải lẽ ra sẽ tiếp tục bị mất, do đó làm giảm lượng phân bài xuất, rút ngắn thời gian bị tiêu chảy.

Cách chăm sóc trẻ bị tiêu chảy


Bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em xuất hiện quanh năm rải rác ở các địa phương, nhưng trong mùa hè bệnh có xu hướng gia tăng với kết quả xét nghiệm do lỵ trực trùng hoặc Rotavirus gây ra, tập trung ở trẻ dưới 6 tuổi. Vấn đề đặt ra là cần chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cấp thế nào cho đúng cách? Bài viết sau đây sẽ giúp các bậc cha mẹ một số kiến thức cơ bản.
Bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em có thể do vi khuẩn hoặc virut gây ra. Vì vậy trong điều trị bệnh có điểm khác nhau cơ bản là: nếu do vi khuẩn gây bệnh thì cần phải dùng thuốc kháng sinh để diệt vi khuẩn; trái lại nếu do virut gây ra thì không dùng thuốc kháng sinh vì thuốc không có tác dụng diệt virut.
 
Do tiêu chảy làm cho trẻ bị mất nước và mất muối nên trong chăm sóc và điều trị rất cần bù lại khối lượng nước và muối đã bị mất do tiêu chảy cho trẻ. Việc ăn uống dùng các thuốc chữa triệu chứng như cầm đi ngoài, giảm đau, trợ lực cũng đòi hỏi các bậc cha mẹ phải có hiểu biết để chăm sóc trẻ bị tiêu chảy đúng cách, khoa học mới mong giúp trẻ mau khỏi bệnh.
 Khi trẻ bị tiêu chảy cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.
Luôn luôn pha và uống dung dịch oresol đúng liều lượng

Bệnh tiêu chảy gây mất nước và muối nhiều, làm cho trẻ nhỏ nhanh suy kiệt, nên phải bù nước và muối kịp thời. 
Cách bù nước và muối tốt nhất và dễ thực hiện nhất tại nhà là cho trẻ uống dung dịch oresol (ORS). Điều cơ bản nhất để dung dịch ORS có tác dụng chữa bệnh là phải pha đúng liều lượng. Cách pha đúng là làm theo hướng dẫn ghi trên nhãn gói oresol. Trên thị trường có nhiều loại oresol để bù nước và điện giải: gói pha 1 lít nước; gói pha 200ml, gói pha  250ml. Pha với nước đun sôi để nguội.
 
Khi pha đúng, nồng độ các chất điện giải mới dễ hấp thu vào cơ thể. Bạn cần dùng các loại cốc, bình chia độ để đo đúng lượng nước cần pha. Cách uống: trẻ dưới 2 tuổi, uống 50 - 100ml/lần tiêu chảy; trẻ 2 - 9 tuổi, uống 100 - 200ml/lần tiêu chảy; trẻ lớn hơn 10 tuổi và người lớn uống tùy theo nhu cầu cơ thể. Nếu bệnh nặng cho uống ORS 5ml/kg/giờ, kết hợp với truyền dịch.
Nếu không có ORS có thể pha dịch thay thế gồm: 8 thìa nhỏ (thìa cà phê) đường, 1 thìa nhỏ muối pha trong 1 lít nước; hoặc nước cháo 50g gạo và một nhúm (3,5g) muối hoặc nước dừa non có pha một nhúm muối. Bệnh nhân bị nôn nhiều nên uống từng ngụm nhỏ.
Chú ý pha đúng khối lượng nước vì nếu pha quá loãng, hàm lượng chất điện giải sẽ không đủ, có thể gây nguy hiểm cho trẻ; ngược lại nếu pha quá đặc, trẻ sẽ bị ngộ độc muối, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng do lượng muối trong máu quá cao sẽ rút nước từ các tế bào ra, khiến cơ thể bị mất nước và rối loạn điện giải nghiêm trọng hơn. Sai lầm dễ mắc là cho trẻ uống quá nhiều nước lọc. 
Vì dung dịch ORS hơi khó uống, một số bà mẹ thấy con không muốn uống, thì dụ con bằng cách uống một ít nước lọc rồi uống ORS. Nhưng làm như vậy hậu quả là trẻ uống nước lọc quá nhiều, bụng trướng lên, rất nguy hiểm, chỉ bù được nước mà không bù được điện giải.
Cho trẻ ăn uống đầy đủ, nhiều bữa
Khi trẻ mắc tiêu chảy, do phải đi ngoài nhiều lần, mất nước mất muối nên trẻ rất nhanh mệt mỏi suy kiệt, vì vậy việc cho ăn là rất quan trọng để bù lại năng lượng bị mất và nâng cao sức đề kháng cho trẻ. Những ngày trẻ bệnh, bạn cần cho ăn thức ăn mềm và lỏng hơn bình thường, nhưng vẫn phải đủ các chất dinh dưỡng là đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất.
 
 Bình thường nước được tái hấp thu ở ruột (trên); Khi bị tiêu chảy nước quá nhiều theo phân ra ngoài (dưới).
Vì đường tiêu hóa của trẻ đang bị tổn thương, nên cần cho trẻ ăn thành nhiều bữa nhỏ, khoảng cách giữa các bữa ăn khoảng 2 giờ. Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi còn bú mẹ thì tiếp tục cho trẻ bú mẹ bình thường và nên cho trẻ bú mẹ tăng lên. Sữa mẹ có tác dụng rất tốt khi trẻ bị tiêu chảy vì trong sữa mẹ vừa đủ các chất dinh dưỡng, vừa dễ tiêu hóa, hấp thu. Nếu trẻ bú sữa ngoài, bạn tiếp tục cho bú bình thường nên cho bú tăng khối lượng và tăng bữa, nhưng không nên thay đổi loại sữa.
 
Trẻ lớn hơn cần cho trẻ ăn đủ các bữa với các loại thức ăn nấu chín kỹ, bổ dưỡng, dễ tiêu như ăn cháo với thịt lợn nạc, thịt gà...  không nên bắt trẻ nhịn ăn hoặc kiêng khem. Cần cho trẻ ăn thêm trái cây chín hoặc nước trái cây  như: chuối, cam, đu đủ... Không nên dùng các loại thực phẩm có nhiều đường, nhiều chất xơ và khó tiêu hóa.
Sai lầm hay mắc phải là: không cho trẻ uống sữa, chỉ cho ăn cháo trắng với muối, kiêng tất cả các loại thực phẩm khác vì sợ con bị tiêu chảy nặng hơn. Nếu làm như thế thì sẽ khiến trẻ dễ bị bệnh nặng hơn vì ăn uống không đủ dinh dưỡng, bệnh lâu khỏi.
Không nên cho trẻ nhỏ  ăn váng sữa, phô mai, vì chứa nhiều chất béo, hệ tiêu hóa của trẻ chưa tiêu hóa được nên ăn vào sẽ càng dễ bị tiêu chảy.
Chỉ cho trẻ uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ
Nhiều bậc cha mẹ nghĩ rằng hễ tiêu chảy thì dùng kháng sinh. Nhưng kháng sinh chỉ có tác dụng tiêu diệt với vi khuẩn chứ không có tác dụng tiêu diệt virut. Nếu con bạn bị tiêu chảy do Rotavirus, thì dù có uống bao nhiêu thuốc kháng sinh cũng không có tác dụng mà chỉ làm cho trẻ mệt hơn. Bạn chỉ dùng kháng sinh chữa tiêu chảy cho con khi có chỉ định của bác sĩ.
Những sai lầm thường mắc phải trong việc dùng thuốc chữa tiêu chảy cho trẻ là: cha mẹ thường mua thuốc chống nôn, cầm đi ngoài cho trẻ uống; hoặc cho trẻ ăn lá ổi, hồng xiêm xanh... để cho trẻ ngừng đi ngoài ngay, nhưng đó chỉ là khỏi bệnh giả tạo và gây ra hậu quả là các tác nhân gây bệnh ở lại trong đường tiêu hóa lâu hơn khiến cho bệnh lâu khỏi, hoặc nặng lên.
Bạn nên thường xuyên rửa tay cho trẻ nhỏ và dạy trẻ lớn thường xuyên rửa tay trước khi cầm, nắm thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh... để phòng tránh bệnh. Cho trẻ uống vắc-xin phòng ngừa Rotavirus là một trong những biện pháp phòng tiêu chảy hữu hiệu.
ThS. Bùi Quỳnh Nga

Thuốc trị tiêu chảy


Tiêu chảy thường có liên quan đến nhiễm khuẩn nhưng cũng có thể do tích lũy trong khoang bụng những dịch có áp suất thẩm thấu cao không hấp thụ được như trong trường hợp thiếu hụt lactose hoặc do những kích thích ở dạ dày-ruột, không do các độc tố vi khuẩn, cũng có thể tiêu chảy là do ruột có cấu tạo hoặc khả năng nhu động không bình thường. Khi mắc tiêu chảy, người bệnh cần được điều trị kịp thời và đúng thể bệnh.
Tiêu chảy cấp tính
Bù nước và điện giải
Mất nước và điện giải có thể gây tử vong ở trẻ em. Bổ sung nước theo đường uống để chống mất nước và điện giải do tiêu chảy là liệu pháp cơ bản. Dung dịch gồm các chất điện giải chủ yếu (natri, kali, chlorid, bicarbonat hay citrat) và glucose, dùng cho bệnh nhân ở bất kỳ tuổi nào hay tiêu chảy do bất kỳ nguyên nhân nào. Thành phần có thể thay đổi nếu trẻ suy dinh dưỡng, có thể bổ sung kẽm trong tiêu chảy cấp tính. Thành phần hợp lý của dung dịch bổ sung nước theo đường uống như sau: glucose tạo điều kiện chuyển vận tích cực các chất điện giải. Sự hấp thụ các chất điện giải là tốt nhất khi tỷ số mol của glucose trên natri vào khoảng 1:1. WHO khuyến nghị, 1 dung dịch chứa 90mmol natri và 111mmol glucose/lít. Loại chế phẩm này được dùng ở các nước đang phát triển, ở đó, tiêu chảy thường có nguyên nhân nhiễm khuẩn. Khi bổ sung nước đã đủ, có thể dùng nước để pha loãng dung dịch để hạ nồng độ natri xuống còn khoảng 60mmol/lít để tiếp nước duy trì. Ở những nước đã phát triển, tiêu chảy do virut hay gặp hơn và gây thiếu chất điện giải ít hơn. Loại bán ở thị trường Anh có chứa 35 - 60mmol natri và 90 - 200mmol glucose/lít. Loại mà nồng độ natri thấp hơn thì glucose cao hơn nhằm đảm bảo tính đẳng trương của dung dịch. 
Khi bị tiêu chảy cần cho trẻ uống oresol được pha theo đúng quy định.
Có một số bằng chứng cho thấy rằng dung dịch có nồng độ natri thấp tốt hơn, tuy nhiên, về vấn đề này cũng còn có nhiều tranh cãi như cần cho thêm citrat hay bicarbonat. Dung dịch nước ngũ cốc đun sôi để nguội có thể tốt hơn glucose, làm tiêu chảy chóng khỏi hơn nhưng cũng có ý kiến cho là dung dịch glucose kết hợp với cho ăn uống sớm thì kết quả cũng ngang với dung dịch ngũ cốc. Tổng kết lại thì thấy dùng nước cháo gạo để bổ sung nước là tốt nhất cho  các trường hợp tiêu chảy thông thường. Đối với bệnh nhân tiêu chảy do tả thì vẫn nên dùng dung dịch WHO đề xuất. Nếu không có thì có thể thay thế bằng nước dừa, nước cháo gạo, súp, nước chè loãng và dung dịch đường với một số muối. Các loại nước giải khát ngọt có độ pH thấp và nồng độ molal cao có thể làm tiêu chảy nặng thêm.
Khi mất nước nặng do tiêu chảy cấp tính (quá 10% thể trọng) phải tiếp nước qua đường tiêm tĩnh mạch, tốt nhất với dung dịch ringer lactat. Tiếp nước đường tĩnh mạch cũng là cần thiết khi bệnh nhân không uống được.
Việc tiếp nước theo đường tĩnh mạch phải kết hợp với dinh dưỡng, đặc biệt với trẻ em để chống suy dinh dưỡng, do ăn uống không đủ khi bị bệnh, vẫn cho trẻ bú mẹ. Trong trường hợp dùng sữa bò, có ý kiến nên pha loãng hơn nhưng cũng có ý kiến không cần thiết phải như vậy. Không nên kiêng hoàn toàn khi bị tiêu chảy, với trẻ em cũng như người lớn, vì ăn có thể làm giảm đại tiện, rút ngắn thời gian tiêu chảy. 

Thuốc điều trị
Theo WHO, việc dùng thuốc chống tiêu chảy có rất ít tác dụng; việc dùng thuốc không làm giảm được sự mất nước và mất chất điện giải mà lại làm chậm sự tống xuất các vi sinh vật là nguyên nhân gây bệnh ra ngoài.
Khi buộc phải dùng thuốc thì dùng những loại thuốc dưới đây:
Nhóm thuốc chống tiêu chảy chính là các chất hấp thụ như attapulgit, kaolin, pectin và nhóm các thuốc làm giảm nhu động ruột như diphenoxylat, loperamid và codein. Các thuốc nhuận tràng tạo khối phân lớn cũng được dùng như methylcellulose do tính chất hấp thụ của chúng. Bismuth salicylat cũng hay được dùng. Chất ức chế calmodulin là zaldarid có hiệu quả làm giảm triệu chứng tiêu chảy.
Các thuốc kháng khuẩn và kháng động vật nguyên sinh thường dùng để dự phòng và điều trị bệnh tiêu chảy, nhưng việc lạm dụng chúng sẽ sinh ra hiện tượng kháng thuốc. Do vậy, nên dùng để phòng bệnh cho người lớn có sức khỏe kém, sống trong những vùng điều kiện thức ăn và nước uống kém vệ sinh và bệnh nhân cần phải di chuyển, không chờ đợi được.
Tiêu chảy mạn tính
Thường có liên quan đến một bệnh nào đó nên việc chữa triệu chứng tiêu chảy không thích hợp bằng chữa nguyên nhân gây bệnh. Ví dụ như cholestyramin chữa tiêu chảy liên quan đến sự hấp thu các acid mật kém. Khi không loại trừ được bệnh đã gây ra tiêu chảy mạn tính thì có thể chữa triệu chứng như tiêu chảy ở người bệnh đái tháo đường.    
DS. Phạm Thiệp

Vitamin B12 quan trọng thế nào?


Năm 1948, Rickes đã phân lập từ gan lợn một chất kết tinh màu đỏ đặt tên là vitamin B12, sau đó 4 giải Nobel đã được trao tặng cho những công trình nghiên cứu có liên quan đến vitamin B12.
Ngày nay, người ta biết rằng vitamin B12 chỉ có trong động vật và thực phẩm lên men. Hệ vi khuẩn ruột người khỏe mạnh cũng sản sinh ra một lượng vitamin B12 đủ dùng cho cơ thể. Nhu cầu vitamin B12 của người trưởng thành là 2mcg/ngày.
Vitamin B12 dược phẩm có hai dạng là: cyanocobalamin và hydroxocobalamin đều có tác dụng tạo máu như nhau (hydroxocobalamin hấp thu qua đường tiêu hóa tốt hơn và có ái lực với các mô lớn hơn cyanocobalamin). Trong cơ thể các cobalamin này tạo thành các coenzym hoạt động là 5-deoxyadenosylcobalamin và methylcobalamin.
Vitamin B12 cần thiết cho tất cả các mô có tốc độ sinh trưởng tế bào mạnh (mô tạo máu, ruột non, tử cung...). Vitamin B12 tạo DNA vật liệu di truyền trong tế bào, duy trì tình trạng khỏe mạnh của tế bào thần kinh và hồng cầu, giữ vai trò then chốt trong phát triển hồng cầu. Vitamin B12 thường dùng để điều trị các bệnh đau thần kinh (như thần kinh tọa, thần kinh vùng cổ, cánh tay...), các bệnh về máu như: thiếu máu ác tính hoặc thiếu máu sau khi cắt dạ dày...
Khi cơ thể thiếu vitamin B12
Thực phẩm có vitamin B12 là gan cừu 54mcg%, gan lợn 23mcg%, sữa bò 0,2 - 0,6mcg%, trứng 6mcg/quả, lòng đỏ trứng 1,2mcg%; thịt bò 2-8mcg%, thịt lợn 0,1 - 5mcg%, thịt gà 3mcg%, cá hồi 5,4mcg%. Sò, trai, ốc, hến: 84mcg%. Tương, chao, sữa chua, dưa cải, dưa giá (vitamin B12khá bền vững ở nhiệt độ nấu ăn ở  100oC).
Khi nồng độ vitamin B12 không đủ sẽ gây ra hủy myelin sợi thần kinh, suy giảm chức năng của một số dạng acid folic cần thiết khác trong tế bào, gây bất thường huyết học ở người bệnh thiếu vitamin B12.  Do đó, phụ nữ trong tuổi sinh đẻ cần đảm bảo đủ vitamin B12 trước và trong thời kỳ mang thai (nồng độ vitamin B12 trong máu thai phụ trên 300ng/l vào đầu thai kỳ có thể bảo vệ thai nhi tránh dị tật ống thần kinh). Thai phụ có hàm lượng vitamin B12 trong máu thấp sẽ sinh con hay quấy khóc. Nhiều biệt dược chứa các vitamin và khoáng chất cần cho phụ nữ mang thai như vitamin B12, acid folic (còn gọi là B9), sắt… rất tiện dùng. Người cao tuổi thiếu vitamin B12 dễ bị teo não và suy giảm trí nhớ, trầm cảm.
Lưu ý khi sử dụng
Theo TS. Maria Carillio, vitamin B12 có tác dụng làm giảm mức độ homocystein, rất lợi cho tim mạch và ngăn nguy cơ sinh bệnh Alzheimer (lú lẫn tuổi già).
Vitamin B12 được hấp thụ trong thức ăn và thuốc, sau khi ăn uống được hấp thu ở ruột non (hồi tràng) nhờ gastromucoprotein của tế bào niêm mạc dạ dày tiết ra. Vì vậy, người bệnh viêm loét dạ dày không dùng được vitamin B12 uống mà phải tiêm. Mức độ hấp thu khoảng 1% không phụ thuộc liều lượng.
Khi tiêm bắp hoặc tiêm dưới da sâu, sau 1 giờ vitamin B12 (cyanocobalamin) đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương rồi được dự trữ ở nhu mô gan để phân phối cho các mô khác.
Người có nguy cơ thiếu vitamin B12: những người ăn chay trường diễn, viêm, teo niêm mạc dạ dày, cắt bỏ toàn bộ dạ dày, cắt bỏ đoạn cuối ruột non.
Vitamin B12 tuyệt đối không dùng trong các trường hợp: u ác tính (có nguy cơ làm u ác tiến triển), có tiền sử dị ứng với các cobalamin, người có cơ địa dị ứng (hen, eczema), người có bệnh trứng cá.
Không dùng vitamin B12 với metformin vì metformin làm giảm 19% lượng vitamin B12 trong máu.
Vitamin B12 cho phép cơ thể đốt cháy nhiều calo, giảm chất béo dự trữ; do đó có người tiêm vitamin B12 để giảm cân cho người béo phì nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện như:  ăn chay, tập luyện giảm cân hàng ngày. Nếu không sẽ gặp nhiều nguy hiểm như: ho dữ dội, thở khò khè, nhịp tim nhanh, hồi hộp, đau ngực. 
 Phản ứng phụ thường gặp khi dùng vitamin B12: buồn nôn, khó chịu trong dạ dày, đau khớp, nhức đầu, phù nề cơ thể.           
DS. Trần Xuân Thuyết